Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2015

Tòa Nam Từ Liêm bị công dân tố cáo, khiếu nại.

Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
---oOo---
Hà Nội, ngày 26 tháng 03 năm 2015

ĐƠN KHIẾU NẠI
(LẦN 3)
 (Về hành vi không giải quyết khiếu nại cho đương sự của Chánh án tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Tp. Hà Nội)
           
Kính gửi: Chánh án Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Tp. Hà Nội.

Đồng kính gửi:

-         Chủ tịch nước CHXHCNVN – Trưởng Ban chỉ đạo cải cách tư pháp TW
-         Ủy ban Kiểm tra TW
-         Trưởng Ban Nội chính TW
-         Trưởng Ban Dân vận TW
-         Ủy ban Tư pháp Quốc hội
-         Ủy ban Pháp luật Quốc hội
-         Ban Dân nguyện Quốc hội
-         Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
-         Chánh án TAND Tối cao
-         Viện trưởng VKSND Tối cao
-         Bộ trưởng Bộ Tư pháp
-         Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội
-         Ủy ban Kiểm tra thành phố Hà Nội
-         Bí thư Thành ủy Hà Nội
-         Thường trực HĐND thành phố Hà Nội
-         Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội
-         Chánh án TAND thành phố Hà Nội
-         Viện trưởng VKSND thành phố Hà Nội
-         Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thành phố Hà Nội
-         Trưởng Ban Nội chính thành phố Hà Nội
-         Trưởng Ban Dân vận thành phố Hà Nội
-         Viện trưởng VKSND quận Nam Từ Liêm
-         Các cơ quan thông tấn báo chí và truyền thông

Tôi tên: Phạm Thị Thanh Hương, là nguyên đơn trong vụ án “phân chia tài sản sau ly hôn” với bị đơn Phạm Chiến Thắng. Vụ việc đang được Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Tp. Hà Nội giải quyết (theo Thông báo thụ lý số 479/2013/TLST-HNGĐ ngày 9/10/2013 của TAND huyện Từ Liêm - nay là TAND quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội).

Thưa Chánh án, trước những sai phạm pháp luật nghiêm trọng của những người tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ án nêu trên và của bản thân Chánh án trong việc giải quyết các khiếu nại của công dân trong vụ kiện nêu trên, tôi đã có nhiều đơn khiếu nại gửi đến Quý Chánh án. Nhưng cho đến nay, không hiểu vì lý do gì mà những khiếu nại của tôi đã không được Quý Chánh án giải quyết theo quy định pháp luật.

Vì vậy, nay tôi tiếp tục làm đơn này gửi tới Chánh án với hy vọng mong manh là nó sẽ  có thể chạm đến lương tâm và trách nhiệm của Chánh án - một người được trao trọng trách giữ gìn công lý cho xã hội. Những khiếu nại cụ thể của tôi đã được gửi đến Tòa nhiều lần. Tuy nhiên, để Chánh án tiện theo dõi, tôi xin trình bày tóm lược lại như sau:

I. Về các sai phạm nghiêm trọng trong trong việc giải quyết vụ án “phân chia tài sản sau ly hôn” nêu trên của TAND Quận Nam Từ Liêm, Tp. Hà Nội:

1.      Sai phạm nghiêm trọng trong việc phân công người tiến hành tố tụng: Căn cứ theo Điều 50 BLTTDS: “việc đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng trước khi mở phiên tòa phải lập thành văn bản, trong đó nêu rõ lý do và căn căn cứ của việc đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng”. Tuy nhiên, việc thay đổi thẩm phán và thư ký trong vụ án này lại không có bất cứ một quyết định thay đổi nào.

Theo hồ sơ được phép sao chụp, ngày 9/10/2013, Tòa án đã có các quyết định phân công thẩm phán Nguyễn thị Kim Thúy và thư ký Trần thị Huyền Trang tham gia tiến hành tố tụng vụ án (BL47-48). Sau đó, từ khoảng đầu tháng 4/2014 đến nay, vụ án có sự thay đổi Thẩm phán và Thư ký. Cụ thể: Thẩm phán Nguyễn Thị Kim Thúy và Thư ký Trần Thị Huyền Trang được thay bằng Thẩm phán Bùi Thị Thu Hồng và Thư ký Đỗ Thị Lệ Thủy. Nhưng việc này hoàn toàn không có bất cứ một quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng nào của Tòa án. Và đặc biệt nghiêm trọng hơn nữa là trong biên bản hòa giải ngày 16/10/2014 có ghi thư ký là ông Lý Kế Hiền, nhưng thực tế ông Hiền không có mặt tại buổi hòa giải. Tại buổi làm việc đó chỉ có duy nhất một cán bộ của Tòa là thẩm phán Bùi thị Thu Hồng. Hôm sau, tôi đến chụp tài liệu tại Tòa thì Thẩm phán Hồng có nói tôi sang gặp ông Hiền để sao chụp. Và thực sự là tôi không biết ông Lý Kế Hiền này “ở đâu ra”? Bởi không hề có bất kỳ một quyết định phân công người tiến hành tố tụng nào cho phép ông Lý Kế Hiền tham gia giải quyết vụ án.

Ngoài ra, tại buổi hòa giải ngày 27/11/2014, do thiếu sự hiện diện của thẩm phán Hồng, nên tôi đã yêu cầu ông Lý Kế Hiền cung cấp quyết định phân công của Tòa về việc ông Lý Kế Hiền được phép tiến hành tố tụng đối với vụ án nhưng ông Hiền đã không cung cấp được quyết định đó. Vì thế buổi hòa giải theo triệu tập đã phải dừng vì không có mặt thẩm phán Hồng và không có thẩm phán thay thế. Việc ông Hiền hoàn toàn không thể cung cấp được quyết định phân công của Tòa và buổi hòa giải trên buộc phải dừng đã chứng tỏ rõ ràng rằng, cho tới ngày 27/11/2014 ông Lý Kế Hiền hoàn toàn không được Tòa phân công tiến hành tố tụng đối với vụ án. Như vậy, việc ông Hiền đã xem xét/nghiên cứu hồ sơ tài liệu của vụ án (khi tôi tới sao chụp hồ sơ tài liệu thì ông Hiền là người đã đưa cho tôi hồ sơ để sao chụp và qua buổi “nói chuyện” với ông Hiền chứng tỏ ông Hiền đã nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án) là hoàn toàn không đúng thẩm quyền và trái các quy định của pháp luật. Việc ông Hiền mời tôi lên Tòa để “làm việc” và đã “làm việc” với tôi vào ngày 24/11/2014 hay việc tiếp và làm việc với các đương sự tại buổi hòa giải ngày 27/11/2014 theo giấy triệu tập của thẩm phán Hồng - cũng là những hành vi và việc làm hoàn toàn trái với các quy định của pháp luật.

2.      Sai phạm nghiêm trọng trong việc tống đạt các văn bản, quyết định tố tụng: Căn cứ theo Điều 147 BLTTDS: “các văn bản tố tụng phải được cấp, tống đạt hoặc thông báo”: Tất cả những quyết định phân công và thay đổi người tiến hành tố tụng nêu trên và một số văn bản tố tụng khác của vụ án: Quyết định gia hạn vụ án số 28/QĐ-TA ngày 10/2/2014 (BL258), quyết định tạm đình chỉ vụ án số 01/2014/QĐTĐC ngày 28/4/2014, đã không được tống đạt cho tôi.   

3.      Triệu tập đương sự bằng điện thoại. Điều này hoàn toàn trái quy định pháp luật. Bởi theo quy định thì việc triệu tập đương sự phải được thực hiện bằng văn bản và tống đạt hợp pháp cho đương sự.

Một thời gian sau buổi hòa giải ngày 16/10/2014, ông Lý Kế Hiền đã triệu tập tôi lên tòa để “nói chuyện” về khả năng hòa giải với bị đơn. Tuy nhiên, việc “tống đạt” nêu trên của ông Lý Kế Hiền được thực hiện bằng điện thoại mà không có bất kỳ văn bản tổng đạt nào.

4.      Làm việc với đương sự nhưng không lập biên bản đúng theo quy định: Theo Luật sư Lê Văn Tú (người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tôi) thì Thẩm phán Bùi thị Thu Hồng đã thông báo cho Luật sư: “do vụ án quá phức tạp nên Tòa phải cử thêm một thẩm phán nữa là ông Lý Kế Hiền tiến hành tố tụng”. Nên sau đó, tôi đã gặp và “làm việc” với ông Hiền vào sáng Thứ Hai ngày 24/11/2014. Tuy nhiên, buổi “làm việc” này đã không được ghi biên bản đúng như quy định và tôi có đầy đủ chứng cứ về buổi “làm việc” này.

5.      Vi phạm nghiêm trọng về thời hạn trong quá trình giải quyết vụ án:

5.1. Thời hạn thụ lý vụ án: Sau gần 3 tháng kể từ ngày nhận được hồ sơ khởi kiện hợp lệ của tôi tòa mới “chịu” ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí để thụ lý vụ án. Trong khi theo quy định tại Điều 167 BLTTDS thời hạn này chỉ là 5 ngày làm việc.

5.2: Thời hạn thụ lý đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty VCOMM: gần 6 tháng kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu độc lập hợp lệ tòa án mới có thông báo đóng tiền tạm ứng án phí. Trong khi theo quy định tại Điều 178 BLTTDS thì thời hạn này cũng chỉ là 5 ngày làm việc.

5.3: Thời hạn thông báo thụ lý vụ án tới người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: thụ lý vụ án từ 9/10/2013 nhưng đến gần cuối tháng 2/2014 tòa mới gửi thông báo thụ lý cho các cơ quan, đơn vị có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong khi theo quy định tại Điều 174 BLTTDS thì thời hạn này cũng chỉ là 03 ngày làm việc. 

5.4: Thời hạn xét xử: Thời hạn này theo pháp luật quy định (Điều 179 BLTTDS) là tối đa 6 tháng (đã tính gia hạn) nhưng tính đến ngày hôm nay, 26/3/2015 (đã trừ hai tháng tạm đình chỉ) thì thời hạn đã là gần 13 tháng. Tòa đã “quá hạn” gần 7 tháng.

6.      Việc sắp xếp và đánh số các bút lục trong hồ sơ vụ án là hết sức lộn xộn, không theo trình tự thời gian và diễn tiến của sự kiện. Các tài liệu từ đầu tháng 4/2014 đến nay không hiểu tại sao lại chưa được đánh số bút lục??? Nghiêm trọng hơn trong hồ sơ vụ án còn thiếu hẳn BL131 và đã bỏ ra ngoài nhiều văn bản/tài liệu là chứng cứ quan trọng:

-         Thông báo thụ lý vụ án đối với ông Phạm Văn Ái và bà Nguyễn thị Vinh đã tống đạt ngày 8/11/2013;
-         Văn bản của nguyên đơn đề nghị Tòa giải thích về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời với căn hộ T2104, Làng Quốc tế Thăng Long;
-         Văn bản trả lời của thẩm phán Bùi thị Thu Hồng về yêu cầu trên;
-         Văn bản ngày 16/10/2014 của nguyên đơn yêu cầu ghi nhận một số thông tin trong phiên hòa giải ngày 15/10/2014;
-         Văn bản của Công ty cổ phần truyền thông V (VCOMM) về việc Tòa giao nhận văn bản không đúng ngày, không có dấu của Tòa;
-         Văn bản của VCOMM về việc đề nghị gia hạn nộp tiền tạm ứng án phí;
-         Quyết định định giá tài sản bổ sung, mặc dù có biên bản bàn giao quyết định này vào ngày 18/4/2014;
-         Thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ cho bị đơn đã tống đạt ngày 8/8/2014;
-         Một số văn bản/tài liệu làm việc của cơ quan công an với Tòa (theo cơ quan điều tra của công an thông báo).

7.      Tòa đã ban hành các quyết định và văn bản khống (BL118-119).

8.      Các biên bản hòa giải của Tòa đều thể hiện những nội dung không đúng với thực tế. Đơn cử là biên bản đề ngày 16/10/2014 có những điểm không đúng như sau:

-         Buổi làm việc thực tế đã diễn ra vào 15h00 ngày 15/10/2014 chứ không phải 14h30 ngày 16/10/2014;
-         Buổi làm việc hoàn toàn không có mặt ông Lý Kế Hiền mà biên bản lại ghi thư ký là Lý Kế Hiền. Thực tế, biên bản đó là do duy nhất thẩm phán Bùi thị Thu Hồng làm;
-         Thực tế nguyên đơn đã đề nghị ghi nhận mức độ đóng góp của các bên vào tài sản chung hình thành trong thời kỳ hôn nhân mà biên bản lại không ghi nhận nội dung này;
-         Thực tế nguyên đơn xác nhận việc đăng ký mua 240.000 cổ phần của VCOMM và đề nghị hiểu rõ việc đăng ký và việc thực hiện mua cổ phần không phải lúc nào cũng đồng nhất – biên bản đã không thể hiện nội dung này;
-         Thực tế không có yêu cầu cụ thể của bị đơn về việc “tôi đề nghị nhận căn hộ T2104 Làng Quốc tế Thăng Long” mà biên bản lại ghi nội dung đó;
-         Thực tế không hề có xác nhận của nguyên đơn về việc đồng ý nộp tiền lãi phát sinh do chậm trả cho căn hộ T2104 Làng quốc tế Thăng Long mà biên bản lại ghi nhận như vậy;
-         Ý kiến của đại diện VCOMM bị cắt xén, cụ thể ông Hào trình bày về việc đã nhiều lần yêu cầu bị đơn trả lại tài sản hợp pháp nhưng không trả lời – cũng không được ghi nhận trong biên bản;
-         Biên bản không có chữ ký của Thẩm phán chủ tọa phiên hòa giải.

9.      Xác định không đúng số lượng cổ phần của tôi tại VCOMM: Tòa án đã sai khi đồng nhất số lượng cổ phần đăng ký mua với số lượng cổ phần sở hữu của tôi tại VCOMM. Bởi số lượng cổ phần đăng ký mua với số lượng cổ phần sở hữu không phải lúc nào cũng đồng nhất.   

10. Tòa chưa tiến hành thu thập chứng cứ cũng như chưa xác minh chính xác và đầy đủ các khoản nợ chung của nguyên đơn và bị đơn. Vô tình hay cố ý mà Tòa án đã “bỏ lọt” các khoản nợ chung của nguyên đơn và bị đơn. Gồm:

10.1. Nợ tiền nhà đối với căn hộ T2104 tòa nhà 28 tầng, làng quốc tế Thăng Long.

10.2.       Các khoản nợ của tôi tại VCOMM, gồm:

-         Các khoản tạm ứng có thể;
-         Khoản tạm ứng liên quan tới Hợp đồng ủy thác đầu tư và tài khoản chứng khoán cá nhân của tôi tại SSI;
-         Các khoản nợ của VCOMM; bởi vì Tòa muốn chia 240.000 cổ phần đã đăng ký mua của tôi tại VCOMM theo yêu cầu của bị đơn thì có liên quan chặt chẽ với trách nhiệm và nghĩa vụ đối với các khoản nợ của VCOMM tính theo quyền và tỷ lệ đã đăng ký mua cổ phần.

11. Việc định giá tài sản không chính xác. Cụ thể: việc định giá căn hộ 1108 CT2B, Mỹ Đình II và các đồ vật trong đó là không đúng giá trị và thiếu các cơ sở pháp lý cần thiết.

12. Vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc cơ bản của việc phân chia tài sản khi ly hôn khi không xem xét đến mức độ đóng góp của mỗi bên vào tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân khi phân chia tài sản. Nguyên tắc này được quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật HN&GĐ 2014: Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung”.

13. Thực hiện việc thu thập chứng cứ không đúng trình tự pháp luật quy định tại Điều 6 BLTTDS: Tòa án tự ý thu thập chứng cứ không theo trình tự đối với các yêu cầu phản tố không rõ ràng và thiếu căn cứ của bị đơn. Có dấu hiệu “bênh vực” cho bị đơn bởi hầu hết các “việc làm” của Tòa đều “tuân theo” một cách nhanh chóng các yêu cầu, đề nghị không nhất quán, thiếu căn cứ và hết sức tùy tiện của bị đơn. Còn đối với yêu cầu/đề nghị hợp pháp của bị đơn thì cứ bị tòa “ngâm cứu” mãi.  Cụ thể: đối với các yêu cầu phản tố của bị đơn liên quan đến các tài sản: căn hộ 707-CT3A khối B Mễ Trì Thượng; cổ phiếu SDU; cổ phần XD PCCC Sông Đà, cổ phần VCOMM, 02 chiếc xe ô tô, sổ tiết kiệm Techcombank (TCB), cổ phiếu Ngân hàng TMCP Quân đội (MB), Tòa án đã tiến hành thu thập thông tin, chứng cứ “giúp” bị đơn một cách “thần tốc” (chỉ trong 4 ngày-trong đó có 2 ngày nghỉ), bất chấp quy định pháp luật về trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ cũng như nghĩa vụ chứng minh của đương sự đưa ra yêu cầu. Cụ thể vi phạm Điều 6 BLTTDS: “Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”.

Nghiêm trọng hơn:

-         Đối với tài sản là căn hộ 707-CT3A khối B Mễ Trì Thượng tòa án đã tiến tống đạt thông báo thụ lý vụ án sai đối tượng đồng thời tiến hành thu thập chứng cứ (lập biên bản lấy lời khai ngày 8/11/2013) đối với những người chưa được đưa vào tố tụng là ông Phạm Văn Ái và bà Nguyễn Thị Vinh.
-         Đối với tài sản là 02 chiếc xe ô tô Honda Civic 30H-4654 và Kia Carens 30M-3672: Vào ngày 30/11/2013 bị đơn chỉ cung cấp bản sao thư điện tử không phải của nguyên đơn gửi cho bị đơn, có nhắc tới chiếc xe Kia Carens 30M-3672 chưa rõ ngữ cảnh; và tại mỗi lần nhắc lại yêu cầu phản tố này thì bị đơn đều không đưa ra được thêm bất kể chứng cớ nào khác thì đã ngay lập tức Tòa đã tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ; thậm chí Tòa còn có Quyết định trái với các quy định của pháp luật đối với việc ủy thác thu thập chứng cứ (cho TAND quận Cầu Giấy) với yêu cầu định giá đối với 2 chiếc xe ô tô không phải là tài sản chung của nguyên đơn và bị đơn mà Tòa đang biết rõ đó là tài sản của một tổ chức (VCOMM). Vậy nên, nếu có tranh chấp thì bị đơn phải khởi kiện VCOMM  ở một vụ kiện khác. Và việc Tòa cố tình cho tổ chức thực hiện xác minh, thu thập chứng cứ và định giá với 02 chiếc xe ô tô thuộc quyền sở hữu của pháp nhân VCOMM theo yêu cầu phản tố của bị đơn để nhằm mục đích phân chia tài sản sau ly hôn của hai thể nhân (nguyên đơn và bị đơn) là một sự cố ý vi phạm pháp luật nghiêm trọng của những người tiến hành tố tụng đối với VCOMM.
-         Vào các ngày: a) ngày 27/2/2014 bị đơn có đề nghị thẩm định giá trị tài sản đối với căn hộ T2104 tòa nhà 28 tầng làng quốc tế Thăng Long và 2 xe ô tô (các yêu cầu phản tố trước đây); b) ngày 17/3/2014 bị đơn có đơn đề nghị Tòa phân chia tài sản với sự khẳng định lại các yêu cầu phản tố là tài khoản chứng khoán SSI, sổ tiết kiệm TCB, cổ phiếu MB, yêu cầu quyết tóan thuế VCOMM, xe ô tô, cổ phần VCOMM; c) ngày 18/4/2014 bị đơn có đơn đề nghị định giá bổ sung với căn hộ T2104 và 2 xe ô tô (yêu cầu phản tố trước đây); d) và ngày 8/8/2014 bị đơn còn có bản tự khai nhắc lại yêu cầu phản tố với 2 chiếc xe ô tô - các đơn đề nghị/bản tự khai trên được đánh số BL216-218, 238-239, riêng 02 văn bản ngày 18/4/2014 và 8/8/2014 không có đánh số bút lục - thì ngay lập tức Tòa đều có các văn bản, hành vi tương ứng đáp ứng các yêu cầu/đề nghị của bị đơn như: a) các văn bản của Tòa ký ngày 28/2/14, văn bản ngày 10/3/2014 do Phó Chánh án Chu Thiện Nghĩa ký (đáp ứng đơn 27/2/2014 của bị đơn); b) văn bản của Tòa ngày 24/3/2014 do Phó Chánh án Chu Thiện Nghĩa ký (tương ứng với đơn 17/3/2014 của bị đơn); c) Quyết định định giá tài sản bổ sung ngày 18/4/2014 mà những người tiến hành tố tụng đã cố tình loại bỏ khỏi tài liệu vụ án, nhưng vẫn còn biên bản tống đạt quyết định này; Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ ngày 18/4/2014 do thẩm phán Bùi thị Thu Hồng ký (đáp ứng đơn 18/4/2014 của bị đơn);
-         Về yêu cầu xác minh chứng cứ về cổ phiếu Ngân hàng TMCP quân đội (MB) thì Tòa đã nhận được trả lời chung chung từ MB và Công ty CP chứng khoán quân đội (MBS) và thiếu sót nhiều chi tiết. Tòa cũng đã không yêu cầu MB và MBS cung cấp các chi tiết giao dịch – đặc biệt là các giao dịch liên quan tới cổ tức của cổ phiếu MBS hàng năm bằng tiền hay thưởng cổ phiếu - tính từ thời điểm tôi chuyển giao số cổ phiếu này cho bị đơn vào thời điểm trước khi tôi sinh cháu thứ hai (xin cung cấp thông tin: từ 7/2009 tới 11/1/2012 cổ phiếu MB chưa niêm yết thì MB có trách nhiệm cung cấp thông tin giao dịch chi tiết, còn từ 11/1/2012 tới nay khi cổ phiếu MB đã niêm yết là thuộc quản lý của MBS nên MBS phải có trách nhiệm cung cấp thông tin giao dịch chi tiết); trong khi đó Tòa đã biết và nhận được các chi tiết về giao dịch tài khoản chứng khoán tại SSI.

Thưa Chánh án, những nội dung vừa trình bày trên đây đã chứng minh rõ ràng hàng loạt các sai phạm nghiêm trọng (thủ tục tố tụng và nội dung vụ án) từ phía những người tiến hành tố tụng (tất cả những cá nhân đã nêu ở trên). Đồng thời cho thấy nhiều dấu hiệu “không khách quan” của những người được gọi là “cầm cân nẩy mực” trong vụ án. Bởi tất cả dường như chỉ thuần túy “phục vụ” yêu cầu, quyền lợi bất hợp pháp của bị đơn.

Thưa Chánh án, do chưa nghiên cứu hết và kỹ các hồ sơ tài liệu vụ án đã sao chụp, cũng như do trong hồ sơ vụ án còn chưa có đầy đủ các tài liệu - nên trên đây chỉ là những ý kiến của tôi tới thời điểm hiện nay về các thiếu sót, sai phạm của những người tiến hành tố tụng; tôi sẽ tiếp tục có ý kiến sau này nếu phát hiện thêm các nội dung khác mà tôi thấy có thể có sai phạm. Nhưng, với hàng loạt thiếu sót, sai phạm nghiêm trọng của những người tiến hành tố tụng mà tôi vừa trình bày - đặc biệt là các sai phạm liên quan tới việc đáp ứng vô điều kiện, vô nguyên tắc các yêu cầu phản tố tùy tiện của bị đơn, có những sai phạm của những người tiến hành tố tụng là sự cố ý vi phạm pháp luật nghiêm trọng, thậm chí có tính chất hình sự - đã chứng tỏ thêm rằng, nếu Tòa coi vụ án đây là phức tạp và kéo dài quá thời hạn quy định, thì chính tất cả những người tiến hành tố tụng cho tới thời điểm hiện nay của vụ án cũng đã và đang góp phần lớn vào sự phức tạp, kéo dài này của vụ án.

II. Về các sai phạm nghiêm trọng trong trong việc giải quyết khiếu nại liên quan đến vụ án nêu trên mà Chánh án phải là người chịu trách nhiệm:

-         Liên quan đến những sai phạm nêu trên của TAND quận Nam Từ Liêm, Tp. Hà Nội, ngày 27/11/2014 tôi đã có đơn khiếu nại gửi tới Chánh án. Tiếp theo đó, ngày 28/11/2014 tôi đã có đơn khiếu nại thứ hai (bổ sung cho đơn khiếu nại ngày 27/11/2014) gửi tới Chánh án.

-         Sau đó, ngày 12/12/2014, tôi có nhận được điện thoại của ông Chu Thiện Nghĩa, Phó Chánh án. Ông Nghĩa đề nghị tôi tới TAND quận Nam Từ Liêm để gặp và làm việc về các khiếu nại của tôi. Theo đó, ngày 17/12/2014 tôi đã đến làm việc với ông Nghĩa. Tại buổi làm việc này, ông Nghĩa đã thông báo cho tôi biết, ông đã được Chánh án phân công giải quyết các đơn khiếu nại của tôi. Đồng thời, ông Nghĩa cũng cho tôi hay rằng buổi làm việc chỉ giới hạn trong phạm vi đơn khiếu nại gửi ngày 27/11/2014 của tôi mà thôi và hoàn toàn chưa đề cập tới đơn khiếu nại thứ 2 gửi ngày 28/11/2014 với lý do phải chờ các thẩm phán và những người có liên quan làm tường trình đối với các nội dung khiếu nại.

-         Tại buổi làm việc ngày 17/12/2014, Phó Chánh án Chu Thiện Nghĩa đã đưa ra các ý kiến về các nội dung khiếu nại tại đơn đề ngày 27/11/2014, đồng thời ông Nghĩa đã hứa rằng sẽ nhanh chóng trả lời cho tôi bằng văn bản về các khiếu nại tại đơn này (chậm nhất là cuối tuần làm việc, tức là tuần từ ngày 15-19/12/2014). Tại buổi làm việc đó tôi cũng đã khẳng định các nội dung sau:
·        Cho tới khi đến Tòa làm việc, tôi vẫn không nhận được giấy mời tới làm việc mà ông Nghĩa khẳng định là đã gửi cho tôi.
·        Việc giải quyết khiếu nại theo các đơn ngày 27/11/2014 và 28/11/2014 cho tới thời điểm 17/12/2014 đều đã quá thời hạn theo các quy định của Bộ Luật TTDS.
·        Tôi khẳng định lại các nội dung khiếu nại của mình và mong sớm nhận được văn bản trả lời/giải quyết đơn khiếu nại ngày 27/11/2014 như ông Nghĩa đã hứa là sẽ gửi, sau khi có văn bản trả lời thì tôi sẽ có ý kiến chính thức về việc giải quyết khiếu nại;
·        Tôi cũng đã đề nghị ông Nghĩa sớm làm việc và giải quyết các nội dung khiếu nại ở đơn đề ngày 28/11/2014 của tôi.

-         Tiếp theo đó, ngày 30/12/2014 tôi đã có đơn khiếu nại về việc chậm giải quyết khiếu nại gửi tới Quý Chánh án và Viện trưởng VKSND quận Nam Từ Liêm nhưng vẫn không nhận được bất kỳ sự hồi đáp nào.

-         Và tính đến hôm nay, 26/3/2015, đã  hơn 3 tháng trôi qua, thời hạn giải quyết khiếu nại theo luật định đã bị vi phạm nghiêm trọng nhưng tôi vẫn chưa nhận được văn bản trả lời/giải quyết khiếu nại tại đơn ngày 27/11/2014. Đồng thời, cho tới giờ phút này tôi cũng không có bất kể một phản hồi nào về việc giải quyết các nội dung khiếu nại tại đơn thứ 2 ngày 28/11/2014 (mà TAND quận Nam Từ Liêm đã nhận ngày 02/12/2014). Trong khi thời hạn này theo luật định (Điều 396 BLTTDS) là 15 kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại.


Thưa Chánh án, tất cả những sai phạm nêu trên đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tôi. Mà người có trách nhiệm cao nhất là Chánh án. Vì vậy, một lần nữa, tôi yêu cầu Chánh án phải nhanh chóng xem xét, giải quyết đối với tất cả các khiếu nại của tôi và tiến hành khắc phục các sai phạm đã nêu trong đơn này. Đồng thời, xem xét xử lý nghiêm những người tiến hành tố tụng trong vụ án, mà cụ thể là những cá nhân có nêu tên ở trên đã có hành vi bất chấp pháp luật một cách có hệ thống trong việc xét xử và giải quyết khiếu nại của công dân.

Cuối cùng, tôi xin Chánh án lưu ý điểm sau: Tôi được biết Việt Nam là quốc gia thứ 2 đã ký vào Công ước quyền trẻ em và bình đẳng giới, mỗi năm phụ nữ Việt Nam có 2 ngày để tôn vinh, vậy thì không hiểu tại sao những người tham gia tiến hành tố tụng của TAND quận Nam Từ Liêm lại đang cố tình tìm mọi biện pháp, thậm chí thủ đoạn, để bảo vệ tối đa quyền lợi cho bị đơn nam giới. Trong khi tôi là phụ nữ đang nuôi 2 con nhỏ - không nhận bất kể khoản chu cấp nào cho việc nuôi con từ phía bị đơn – hiện đang phải thuê nhà để ở, thì một căn nhà tài sản chung hợp pháp thì bị đơn, bằng quan hệ nào đó, cố tình ngăn cản không cho chúng tôi được nhận để ở; căn nhà tài sản chung hợp pháp còn lại thì bị đơn đang sử dụng để ở chung với người hôn phối mới và những đứa trẻ khác.

Tôi rất mong đơn khiếu nại lần 3 này của tôi sẽ chạm tới Chánh án, không chỉ là người cầm cân nảy mực mà còn cả dưới góc độ một con người nhân tính.

Trân trọng.    

Kính đơn




Phạm thị Thanh Hương





Công dân quận 9 HCM khiếu nại.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
---------
Quận 9, ngày 31 tháng 03 năm 2015

Bài phát biểu của đại diện nguyên đơn Huỳnh Thị Kiều:
                                                    --------
Kính thưa: Hội đồng xét xử sơ thẩm phúc thẩm
Kính thưa: đại diện Viện Kiểm sát phúc thẩm.
Kính thưa quý vị
           Tôi tên là Nguyễn Thu Giang, đại diện cho nguyên đơn Huỳnh Thị Kiều theo  HĐ ủy quyền công chứng ngày 29/03/2011, trong vụ án “Tranh chấp di sản thừa kế giữa bà Đặng Thị Tuyết, bà Huỳnh Thị Kiều với bà Lê Thị Cầu”.
          Ngày 23/09/2014, nguyên đơn Huỳnh Thị Kiều có gửi  đến TANDQ9 Bản tự khai bổ sung gồm 6 phần:
1-Khối di sản;2-Xác định các thừa kế;3-Mội số điểm trong các hồ sơ mua bán;4-Nêu vài chứng cứ xác định di sản chưa chia, đất tranh chấp;5-Việc cấp giấy chứng nhận QSD đất của UBNDQ9;6-Đề nghị, kiến nghị.
     Ngày 29/09/2014, TANDQ9 mở phiên xử sơ thẩm. Ngày 06/10/2014 HĐXX TANDQ9 tuyên án. Ngày 20/10/2014, vì sợ  hết thời hiệu kháng cáo, nguyên đơn Hùynh  Thị Kiều nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án. Ngày 21/10/2014 TANDQ9 tống đạt bản án số 284/2014/DS-ST. Sau khi nghiên cứu kỹ bản án, ngày 22/11/2014 nguyên đơn Huỳnh Thị Kiều gởi đơn kháng  cáo bổ sung.
         Hôm nay trước Hội đồng xét xử phúc thẩm, tôi đại diện cho nguyên đơn Huỳnh Thị Kiều xin phát biểu khẳng định các nội dung trong Bản tự khai bổ sung, đơn kháng cáo và đơn kháng cáo bổ sung, như sau:
I.Về khối di sản:
        Di sản của ông Lê Văn Mân, Bà Nguyễn Thị Nhân, là ông bà nội của nguyên đơn Huỳnh Thị Kiều, để lại là một căn nhà và khoảng trên 1.500 m2 đất thổ cư tập trung. Theo bản vẽ (bv) ngày 21/05/2007 còn 1.498,20m2. Sau khi làm đường, bản vẽ sau cùng ngày 12/11/2012 diện tích di sản còn  1.296,5m2, tọa lại tại thửa 562, một phần các thửa 76, 87, 88, 89 thuộc tờ bản đồ số 56, P. Tăng Nhơn Phú A ( P.TNPA), quận 9. Theo HĐĐG ngày 29/01/2013 xác định đơn giá QSD đất là 8.000.000đ/m2. (Khi đọc bản án mới thấy bản vẽ này đã để ngoài một số diện tích đất  di sản của ông Mân, bà Nhân, do nhân viên đo vẽ không vào được phần đất sang nhượng đã xây dựng, do chủ nhà đóng của không cho vào).
Điểm lại quá trình làm chủ sử dụng và tranh chấp:
         Ông Mân (chết 1928) vợ là bà Nhân (chết 1952) được cha mẹ (là ông Lủy) cho đất để cất nhà ở và trồng hoa màu. Sau khi ông Mân, bà Nhân chết, con là Lê Thị Thu ở, quản lý. Năm 1972 bà Thu mất, nhà và đất do bà Ngởi (con thứ hai của ông Mân và bà Nhân) lui tới nhang khói và trông coi giữ gìn khu đất, nhà cửa, cây trái. Sau năm 1975 ông Lê Văn Trường (con thứ 3 của ông Mân, bà Nhân, tham gia CM, sau 1954 về sống với vợ con tại quận Bình Thạnh), trở về ở nhà và sử dụng khu đất này.
           Năm 1995, do đời sống khó khăn, ông Trường có cắt bán QSD một số đất, bằng giấy tay. Khi nghe tin việc mua  bán sang nhượng này, ngày 10/12/1999 các thừa kế có làm đơn tranh chấp, yêu cầu chia di sản thừa kế.
          Năm 2002 vụ việc được UBNDP.TNPA tổ chức hòa giải nhưng không thành, UBNDP.TNPA ký văn bản hướng dẫn các nguyên đơn khởi kiện ra tòa.
         TANDQ9 nhận đơn khởi kiện ngày 21/10/2002. Ngày 10/11/2003 TANDQ9 ra QĐ 53/ĐC đình chỉ việc giải quyết vụ án với lý do: “thời hiệu khởi kiện đã hết”.
         Các nguyên đơn kháng án, ngày 15/03/2004 TANDTPHCM  ra QĐ414/DSPT, cho rằng các nguyên đơn (bà Tuyết, bà Kiều) viết đơn khởi kiện ngày 21/10/2002 (còn trong thời hiệu – thời hiệu đến ngày 10/3/2003) “ nhưng đến ngày 16/5/2003 cả bà Tuyết và bà Kiều mới đóng tiền tạm ứng án phí. Thời điểm được xác định các đương sự chính thức khởi kiện được Tòa chấp nhận là ngày nộp tiền tạm ứng án phí. Đối chiếu với qui định trên thì bà Tuyết và bà Kiều đã hết quyền khởi kiện...”,  Do đó TANDTPHCM: “Bác đơn kháng cáo của bà Đặng Thị Tuyết, giữ y  QĐ sơ thẩm số 53/ĐC ngày 10/11/2003 của TANDQ9”.
       Các nguyên đơn khiếu nại đến TANDTC yêu cầu Giám đốc thẩm. Ngày 26/07/2006 TANDTC ban hành QĐ 178/2006/DS-GĐT, theo TANDTC:“ Theo khoản 1 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế thì thời hiệu là 10 năm tính từ ngày mở thừa kế đến ngày khởi kiện. Theo khoản 3 Điều 37 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, khi hết thời hạn Tòa án gia hạn nộp tạm ứng án phí mà nguyên đơn không nộp thì Tòa án không thụ lý vụ án chứ không coi là nguyên đơn từ bỏ việc khởi kiện. Do đó, bà Tuyết, bà Kiều nộp đơn khởi kiện ngày 21-10-2002 vẫn còn thời hiệu khởi kiện. Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm căn cứ vào ngày 16-5-2003 (ngày nguyên đơn nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm) để xác định thời hiệu khởi kiện và quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do hết thời hiệu khởi kiện là không đúng quy định của pháp luật...”  Từ đó TANDTC quyết định:
       “ Hủy QĐ 53/ĐC ngày 10-11-2003 của TANDQ9 và hủy QĐ 414/DSPT ngày 15-3-2004 của TANDTPHCM  về vụ tranh chấp di sản thừa kế giữa nguyên đơn là bà Đặng Thị Tuyết và bà Huỳnh Thị Kiều với bị đơn là bà Lê Thị Cầu.
       Giao hồ sơ vụ án cho TANDQ9, TPHCM xét xử theo thủ tục sơ thẩm”.
        Chấp hành QĐ 178/2006/DS-GĐT ngày 26/07/2006 của TANDTC,  ngày 22/04/2013 TANDQ9  ban hành QĐ 65/2013/QĐST-DS đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, nhưng lại hoãn...
         Ngày 14/8/2014 TANDQ9 ban hành QĐ 178/2014/QĐST-DS đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm ngày 05/09/2014. Theo QĐ 188/2014/QĐ-HPT ngày 05/9/2014 của TANDQ9 hoãn  phiên tòa vì có nhiều người kế thừa của bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt ...và quyết định mở lại phiên tòa vào ngày 29/09/2014, ban hành bản án 284/2014/DS-ST. Các nguyên đơn kháng cáo. Ngày 10/03/2015, TANDTPHCM ban hành quyết định số 674/QĐPT-DS đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm hôm nay.
      Tôi đại diện nguyên đơn Huỳnh Thị Kiều trình bày nội dung kháng cáo Bản án 284/2014/DS-ST như sau:
Kháng cáo: Toàn bộ bản án sơ thẩm số 284/2014/DS-ST, ngày 06/10/2014 của TANDQ9 v/v  “Tranh chấp di sản thừa kế”.
Lý do của việc kháng cáo:  
       Vì bản án tuyên xử không đúng các quy định của pháp luật, không bảo vệ  quyền lợi của nguyên đơn theo đúng quy định của pháp luật, có dấu hiệu vi phạm tố tụng... Cụ thể:
1.Bà Huỳnh Thị Ba (chết 2007), là mẹ của nguyên đơn Huỳnh Thị Kiều mà bản án không đưa vào danh sách Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là sai quy định tại khoản 4 Điều 56 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2004.
Bà Cầu có 14 người con, nay có một người (ông Bàng) mới mất trong tháng 03/2015 này. Có thông tin có vài người bị bệnh tâm thần.Trong đó một người con gái bị bệnh tâm thần từ lâu. Khi nghe tin bà Cầu chết, thư ký (nay là thẩm phán) TANDQ9 Trần Thị Lệ Quyên đã nói: bà Cầu có mấy người con bị bệnh tâm thần và cho rằng vụ án sẽ khó khăn, kéo dài (bà Cầu còn là bị đơn trong một vụ án khác tại Quận 9). Cả thư ký Quyên và Chánh án Nhung cũng khuyên tôi, đại diện cho nguyên đơn - nên bàn với các nguyên đơn suy nghĩ rút đơn khởi kiện. Phần đất còn lại (đất trống), nhờ Ủy ban nhân dân (UBND) phường giúp cho rào lại và chia cho 2 thừa kế chưa hưởng (Bà Ngởi, ông Mảng). Thế mà nay trong bản án không thấy các thủ tục giám định, giám hộ của các đồng bị đơn này tham gia vụ án. Đây là điều sai về tố tụng. Ngoài ra còn nhiều người mất khác, thủ tục kế thừa quyền, nghĩa vụ của họ cũng chưa thấy thể hiện.
Tại trang 14 bản án ghi nhận có 11 người xin vắng mặt, trong đó có đại diện UBNDQ9; 14 người vắng mặt không có lý do, trong đó đáng chú ý là có 5 người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Lê Thị Cầu (bị đơn) là ông Nguyễn Văn Bàng, bà Nguyễn Thị Anh, ông Nguyễn Văn Quý, bà Nguyễn Kim Hồng, bà Nguyễn Kim Thanh. Trong 05 người này Tòa bỏ qua thủ tục kiểm tra xem có người nào bị bệnh tâm thần, không nhận biết quyền, nghĩa vụ cũng như hành vi của mình không? Họ có biết vụ kiện, có nhận được Giấy triệu tập của Tòa không mà họ vắng mặt?
2.Phần đất 105m2, năm 1996 ông Trường chuyển nhượng cho ông Nguyễn Quang Bình – bà Đoàn Thị Mai,  bản án cho là “nằm ngoài bản đồ. Phía nguyên đơn không xác định đất này là di sản” (trang 6, trang 11, trang 20). Câu này không đúng bản chất sự việc, thực chất là chủ nhà không cho vào, nên không đo vẽ được. Đại diện nguyên đơn ký tên trong biên bản đo vẽ. Đây có thể nói là có sự nhầm lẫn, hà tỳ của phía nguyên đơn. Bởi vì bản thân ông Trường không có đất, ông chỉ có thể chuyển nhượng QSD đất di sản của ông bà cha mẹ. Cần nói thêm rằng, phần đất di sản mà ông Trường sử dụng vào thời điểm đó có diện tích 1.504 m2 (bản đồ hiện trạng do ông Đặng Văn Quốc, CBQLĐT phường lập ngày 25.6.2002, có sự chứng kiến của nhiều người, xem biên bản ngày 25.6.2002), là phần đất có khuôn viên bởi hàng tre bao quanh. Theo biên bản phường Tăng Nhơn Phú A (P.TNPA) lập ngày 2.7.2002, ông Trường nhượng cho ông Bình ngày 27.6.1996 là 105 m2. Phần này không thể để ngoài khối di sản được.
3.Năm 1998, ông Lê Văn Trường và vợ cho ông Bùi Minh Hải 100 m2 (trang 8 bản án). Ông Trường chết năm 1997 nên việc cho này chỉ có vợ ông Trường (tức là dâu của người để lại di sản ) cho. Đây là điều trái quy định của pháp luật về thừa kế.
4.Ông Vũ Văn Phát (bà Nhiễu) nhận chuyển nhượng của ông Trường 200 m2 ngày 07.03.1995 qua sự giới thiệu của bà Cầu (trang 9 bản án). Như vậy là có sự đồng ý của bà Cầu (sao bản án không quy trách nhiệm của bà Cầu và các thừa kế của bà trong thương vụ này?). Nhưng bản án ghi là: “đất mua nằm ngoài phần đất của gia tộc bà Cầu”. Vậy ông Trường (có sự đồng ý của bà Cầu) chuyển nhượng QSD đất của ai? Bản án không làm rõ. Như trên đã nói, ông Trường không có đất. Ông chỉ có thể chuyển nhượng QSD đất di sản của gia tộc. Báo cáo thực địa ngày 18.10.1995 có xác nhận của UBND xã Tăng Nhơn Phú đã nói lên điều đó.
5.Việc ông Phát (bà Nhiễu) nhận chuyển nhượng QSD đất di sản 1995 bằng giấy tay, người chuyển nhượng không có quyền và không có giấy tờ. Năm 1999 đã có đơn tranh chấp cho mãi đến hôm nay. Nhưng năm 2004 ỦBND quận 9 hợp thức hóa, cấp giấy chứng nhận. Điều đó là vi phạm Điều 30 Luật đất đai (LĐĐ) năm 1993, Điều 50 LĐĐ 2003. Sau đó chuyển nhượng cho hàng loạt người khác (bà Rạng, ông Chiêu; ông Sơn, bà Nguyệt; bà Thảo; bà Lợi; ông Ngọc). Trong đó đáng chú ý là có công chức của tòa án Quận 9 là bà Tăng Thị Nguyệt (tôi được biết, theo quy định của ngành, công chức ngành tòa án không được nhận chuyển nhượng QSD đất đang có tranh chấp, như vậy bà Nguyệt vi phạm quy định của ngành). Cần nhớ rằng các thừa kế của người để lại di sản (ông Mân, bà Nhân) tranh chấp tòan  bộ khối di sản là 1.504 m2. Nên các lô đất chuyển nhượng này nằm trong tình trạng pháp lý: đất di sản, chưa chia, không có giấy tờ hợp pháp, đang có tranh chấp.
6.Ông Nguyễn Văn Nam, năm 1995 nhận chuyển nhượng 120m2 QSD đất bằng giấy tay của bà Chuyện (trang 9, trang 14) đất di sản chưa chia, bà Chuyện là dâu của người để lại di sản, làm sao có quyền chuyển nhượng?
7.Bà Lê Kim Cúc, con của ông Lê Văn Trường chuyển nhượng QSD đất di sản chưa chia bằng giấy tay cho nhiều người (bà Kim Bằng; bà Huệ, ông Long (sau đó những người này chuyển nhượng lại cho bà Phương, ông Thành); ông Lương, bà Oanh; ông Vũ Văn Nhất; bà Hiếu, ông Chinh). Về sau bà Cúc nhận thức việc chuyển nhượng đó là sai, nên chính bà “yêu cầu Tòa án hủy tất cả các trường hợp mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên phần di sản này và chia thừa kế theo quy định pháp luật” (cuối trang 8, đầu trang 9 bản án). Chi tiết này nói lên,  bà Cúc thừa nhận việc chuyển nhượng này là sai, bà đề nghị tòa xử, chia theo pháp luật. Nghĩa là bà là người chuyển nhượng nhưng cũng có tranh chấp với người nhận chuyển nhượng. Xem các biên bản do UBND phường cung cấp khẳng định điều đó.
8.Ông Hoàng Đình Lâm nhận chuyển nhượng QSD đất từ ông Bàng (chứ không phải từ bà Cầu), năm 2004 (chứ không phải năm 2001- tại trang 11 bản án). Vì, theo quyết định số 37/QĐ-UBND ngày 31/03/2009 của ỦBND quận 9 v/v giải quyết khiếu nại của bà Đặng Thị Tuyết, đã xác định rõ: “Đến tháng 3/2002, bà Lê Thị Cầu (là con của ông Mân, bà Nhân) sang nhượng lại cho ông Hoàng Đình Lâm. Khi làm hồ sơ xin sử dụng đất của ông Hoàng Đình Lâm, bà Cấu để con là ông Nguyễn Văn Bàng đứng tên lập giấy thỏa thuận bồi hoàn đất với ông Hoàng Đình Lâm và đứng tên trong tờ khai nguồn gốc sử dụng đất. Vào thời điểm xác nhận hồ sơ xin sử dụng đất xây dựng của ông Lâm, Ủy ban nhân dân phường Tăng Nhơn Phú A chưa xác minh rõ nguồn gốc quá trình sử dụng phần đất thuộc thửa 68 tờ bản đồ số 05 xã Tăng Nhơn Phú ( theo tài liệu 02/CT-UB)”. Từ đó UBND quận 9 chấp nhận đơn khiếu nại của bà Tuyết và ngày 02/04/2009 UBND quận 9 ban hành quyết định 929/QĐ-UB thu hồi giấy chứng nhận (GCN) QSD đất đã cấp cho Hoàng Đình Lâm với lý do: Giấy chứng  nhận được cấp khi đất đang có tranh chấp.
9.Bà Lê Thị Hồng Ngọc, đại diện cho UBND quận 9, theo bản án ghi nhận đã phát biểu một cách vu vơ vô trách nhiệm. Vụ việc ở P.Tăng Nhơn Phú A mà tại trang 11 bản án ghi là “trong đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND P.Tăng Nhơn Phú B đã xác nhận tại thời điểm xin cấp giấy chứng nhận không có tranh chấp. Ngày 04/08/2004 ông Phát – bà Nhiễu được UBND Quận 9 cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở”. Đất tọa lạc tại phường Tăng Nhơn Phú A, mà UBND phường Tăng Nhơn Phú B xác nhận là sao?
Trong Báo cáo thực địa ngày 18/11/1995 (để chuyển nhượng cho ông Phát), có xác nhận của UBND xã Tăng Nhơn Phú ghi rất rõ là đất thổ cư của ông bà để lại, đến 1950 ông Mân cho con là Lê Văn Trường sử dụng đến nay . Báo cáo này đúng được mấy điểm là: đất thổ cư, đất di sản chưa chia. Nhưng có mấy điểm sai là: nói cho, nhưng không có giấy tờ chứng minh, hơn nữa ông Mân chết năm 1928, mà năm 1950 còn đội mồ lên cho ông Trường? Năm 1995, các thân nhân các đồng thừa kế khác chưa phát hiện vụ chuyển nhượng  bằng giấy tay nên chưa gửi đơn tranh chấp. Nhưng Điều 30 LĐĐ 1993 quy định đất không có tranh chấp được quyền sang nhượng có nghĩa là QSD đất của người nào thì người đó có quyền sang nhượng nếu không có tranh chấp. Còn ở đây chưa xác định QSD đất của ông Trường làm sao ông được chuyển nhượng? Mặt khác từ tháng 12 năm 1999 phát sinh tranh chấp (xem biên nhận nhận đơn ngày 10/12/1999 của UBND quận 9; CV 55/UB ngày 23/8/2002 của UBND P.TNPA v/v trả đơn tranh chấp nhà đất của gia tộc; CV số 51/BC-UB ngày 10/10/2002 của UBND P.TNPA kính gửi UBND Quận 9, Phòng QLĐT Quận 9 v/v Báo cáo việc tranh chấp thừa kế của gia tộc bà Lê Thị Cầu, xác định diện tích đất tranh chấp là 1.504 m2 tọa lại tại 13/66 KP 3, P.TNPA; Giấy trả lời khiếu nại số 4406/UB-QLĐT ngày 25/10/2002 của UBND Quận 9 cho bà Đặng Thị Tuyết, trong đó ghi rất rõ: UBND Q9 nhận được đơn khiếu nại của bà khiếu nại về việc: giải quyết tranh chấp đất thổ của gia tộc, tại 13/66 KP 3, P.TNPA, Q9, TPHCM; CV 4712/CV-QLĐT ngày 20/11/2002 của UBND Q9 Tr/y: trả lời đơn kiến nghị ngăn chặn chuyển quyền của bà Đặng Thị Tuyết. Tại văn bản này, UBNDQ9 biết rất rõ bà Tuyết đại diện cho bà Cúc, bà Kiều xin ngăn chặn chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất  số 68A – tờ bản đồ số 05 TNPA – diện tích 1.504m2, với lý do: đang có tranh chấp đất đai. Cuối công văn UBNDQ9 còn hứa sẽ tiếp tục quan tâm theo dõi trường hợp này). Sau đó phía bà Tuyết còn gửi nhiều đơn, cung cấp nhiều chứng cứ của việc tranh chấp. Thế mà nay trước tòa, đại diện UBNDQ9 cho rằng vào thời điểm cấp giấy chứng nhận (2004) không có tranh chấp. Lập luận này không thể hiện trách nhiệm của cơ quan nhà nước. Người dân không thể ngồi “canh me” UBND Q9 để phát hiện khi cấp Giấy chứng nhận cho ai trên đất di sản của ông bà cha mẹ mình để ngăn chặn !?
Sau đó nhiều người nhận chuyển nhượng bất hợp pháp này lại được UBNDQ9 cấp Giấy chứng nhận QSD đất và những người này cũng đã chuyển nhượng cho hàng loạt người khác mà đại diện UBNDQ9 cũng cho là đúng theo quy định pháp luật (trang 12 bản án). Ý kiến của đại diện UBNDQ9 là mâu thuẫn với quy định của pháp luật. Việc cấp giấy chứng nhận này không thực hiện theo đúng quy trình và nguồn gốc sử dụng đất. Tôi yêu cầu Đại diện UBNDQ9 và TANDQ9 chỉ ra các điều luật áp dụng để cấp các giấy chứng nhận này.
10.Bản tự khai bổ sung của nguyên đơn Huỳnh Thị Kiều ngày 23/9/2014, đã gửi chuyển phát nhanh cho TANDQ9 ngày 24/9/2014, và đại diện của nguyên đơn phát biểu tại phiên tòa 29/9/2014, gồm các yêu cầu:
1).Tôi đề nghị HĐXX tuyên xử tôi ( Huỳnh Thị Kiều ) được hưởng 110 m2 QSD đất di sản thừa kế của ông bà nội tôi là ông Mân, bà Nhân.
2).Tôi đề nghị HĐXX tuyên xử  đối với các vụ việc mua bán QSD đất không đúng quy định của pháp luật.
3).Tôi đề nghị HĐXX tuyên xử  đối với các quyết định, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các giấy tờ khác do UBND quận 9 đã cấp sai quy định của pháp luật.
Nhưng trong bản án, tòa không nêu đầy đủ yêu cầu của nguyên đơn.
11.Bản án ghi: “Trong quá trình sử dụng, ông Trường (bà Cúc)  có xây dựng lại căn nhà” nhưng tòa không tiến hành các thủ tục định giá, tính giá trị cho ông Trường (bà Cúc) là thiệt thòi cho các người này.
12.Khối di sản gồm  căn nhà và 1.504m2, chứ không phải 1.296,5m2 như bản án nêu (chỉ trừ phần trong lộ giới rất ít).
13.Phía bị đơn nại ra rằng: không chấp nhận chia theo yêu cầu của bà Kiều vì bà Ba không phải là vợ ông Mảng nên bà Kiều không phải là con ông Mãng (trang 13). Việc này các thừa kế của ông Mãng không tranh chấp, mà phía bị đơn lại “tranh chấp dùm”. Mặt khác tòa không yêu cầu bị đơn đưa ra chứng cứ về quan hệ huyết thống của bà Kiều với ông Mãng là sai tố tụng. Trong trường hợp bị đơn không cung cấp được thì tòa buộc họ rút lại ý kiến này, hoặc tòa bác ý kiến của họ. Đằng này tòa lại lấy các chứng cứ (trang 18 bản án) do nguyên đơn cung cấp (03/10/2014) để chứng minh cho lời phản tố tại phiên tòa (29/9/2014) là không đúng quy định  tố tụng.
14.Tòa không xác định cụ thể quyền của bà Chuyện, bà Cúc (vợ con của ông Trường) và cho rằng 3 người này đã chuyển nhượng bất hợp pháp di sản chưa chia 611,6 m2 (thực tế nhiều hơn). Nay 3 người này đều đã chết, không còn ai thực hiện nghĩa vụ về tài sản nên cho hưởng hết phần họ đã chuyển nhượng (trang 19 bản án), nhiều hơn gấp 04 lần các thừa kế khác. Như vậy vi phạm Điều 30 Pháp lệnh Thừa kế, vi phạm khoản 2 Điều 679 BLDS năm 1995, khoản 2 Điều 676 BLDS 2005: “những người thừa kế cùng hàng được chia phần di sản ngang nhau”.
Như trên đã nói, bà Cầu có liên đới trách nhiệm khi giới thiệu cho ông Trường chuyển nhượng QSD đất di sản cho ông Phát 200m2 mà nay bản án không đề cấp đến trách nhiệm của các thừa kế của bà Cầu là không thỏa đáng.
Theo bản án, tổng hợp lại cùng hàng thừa kế, ông Trường hưởng hơn 611,6m2 (trang 19, 25). Bà Ngởi do bà Tuyết đại diện hưởng 159,36m2 (trang 22) và quản lý sử dụng thêm 238,6m2 (trang 26), nhưng lại phải trả lại giá trị phần chênh lệch. Như vậy theo Tòa, sau khi trả phần chênh lệch này, bà Tuyết có thêm 238,6 m2 QSD đất này nữa phải không? Ông Mãng, bà Cầu mỗi người chỉ hưởng 159,36m2 (trang 22, 25). Phân chia như vậy là quá bất hợp lý, không rõ ràng và không thể chấp nhận được.
15.Bản án nêu: “Phần đất chuyển nhượng cho ông Nguyễn Quang Bình không thuộc khối di sản” (trang 20) là không đúng. (đã nêu ở trên).
16. Bản án nêu: Đối với các hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Trường, bà Chuyện, bà Cúc chuyển nhượng bằng giấy tay cho ông Phát- bà Nhiễu với diện tích 200m2, khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 187,1m2 do có một phần lộ giới nhưng không có tranh chấp hay khiếu nại  … Đây là hợp đồng hợp pháp nên được công nhận”(trang 20). Về nội dung này tôi phản bác như sau:
-Thời điểm cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông Phát - bà Nhiễu là ngày 04/08/2004 mà Tòa nói không có tranh chấp là không đúng, vì các nguyên đơn đã tranh chấp từ 1999 đến nay, UBNDQ9, UBNDP.TNPA biết rất rõ điều này (xem tại điểm 9 trên đây).
-Bản án cho rằng: “Đây là hợp đồng hợp pháp”, nhưng không đưa ra theo quy định nào? Đây là điều không thể chấp nhận và khẳng định hợp đồng này là bất hợp pháp. Vì người chuyển nhượng không đủ quyền chuyển nhượng di sản chưa chia, không có giấy tờ hợp pháp, lại chuyển nhượng không bằng hợp đồng có công chứng, và tài sản đang có tranh chấp.
17.Bản án hiểu sai Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán (HĐTP) của Tòa án nhân dân Tối cao (TANDTC)  hướng dẫn áp dụng pháp luật  trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình  (sau đây viết tắt là NQ02), cho rằng HĐTP TANDTC “bẻ”  lại các điều luật do Quốc hội ban hành (trang 21).Cụ thể:
a) Bản án cố tình bỏ qua nội dung quan trọng nêu tại tiểu mục 2.3 mục II NQ02, điều kiện để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Tiểu mục 2.3 quy định. “Việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập từ sau này 15/10/1993.
A. Điều kiện để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Theo qui định tại Điều 131, các điều từ Điều 705 đến Điều 707 và Điều 711 của Bộ luật Dân sự, khoản 2 Điều 3, Điều 30, Điều 31 của Luật Đất đai năm 1993 và khoản 1 Điều 106, điểm b khoản 1 Điều 127, khoản 1 Điều 146 của Luật Đất đai năm 2003, thì Toà án chỉ công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi hợp đồng đó có đầy đủ các điều kiện sau đây:”
Các hợp đồng chuyển nhượng QSD đất trong vụ án này vi phạm các điều kiện trên đây. Cụ thể:
1)Trái pháp luật, vì đã chuyển nhượng di sản chưa chia mà không được sự đồng ý của các thừa kế khác; 2) chuyển nhượng bằng giấy tay (vi phạm Điều 131 BLDS 1995). 3)Việc chuyển nhượng không được phép của cơ quan có thẩm quyền (vi phạm Điều 707 BLDS 1995). 4) Đất chuyển nhượng không có giấy tờ hợp pháp, đất đang có tranh chấp (vi phạm Điều 30 LĐĐ 1993, Điều 50, Điều 106, Điều 146 LĐĐ 2003). 5) Thủ tục chuyển nhượng không thực hiện tại UBNDTP (vi phạm điều 31 LĐĐ 1993). 6) Hồ sơ chuyển nhượng không đủ, hợp đồng chuyển nhượng không qua công chứng… (vi phạm điểm b khoản 1 Điều 127 LĐĐ 2003). Thế mà Bản án  cho rằng đủ điều kiện để xét đến các điểm A.1, A.2,  A 3, A 4, A 5, A.6 là không đúng quy định NQ02.
b) Tiếp theo, bản án trích dẫn điểm b.3 tiểu mục 2.3 mục 2 NQ02, nhưng hiểu không đúng nội hàm của chủ thể Bên chuyển nhượng của NQ02. Tôi chắc chắn rằng HĐTPTANDTC không khuyến khích các Tòa án công nhận “kẻ trộm”, chuyển nhượng QSD đất di sản của gia tộc, nó còn là tài sản chung chưa chia.
Bên chuyển nhượng theo NQ02 là người có QSD đất đích thực của người đó nhưng chưa làm thủ tục hợp thức hóa, nên phải chuyển nhượng bằng giấy tay. Việc chuyển nhượng đó là ngay tình nên họ không phản đối. Còn ở đây những người chuyển nhượng này không phải người chuyển nhượng đúng nghĩa, mà họ giống như những “kẻ cắp”, lấy được đồng nào hay đồng nấy, họ không phải là Bên chuyển nhượng có  nội hàm như NQ02.
Mặt khác cần nói thêm, trong trường hợp còn băn khoăn, cho rằng NQ02 của HĐTPTANDTC “đá” các điều luật do Quốc hội ban hành, thì Tòa án xem các quy định khác để hiểu cho đúng trình tự, địa vị pháp lý của các văn bản quy phạm pháp luật.
Tại Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 (LBHVBQPPL) thì Nghị quyết của HĐTPTANDTC đứng hàng thứ 6 sau Hiến pháp, Luật của Quốc hội, thì Nghị quyết của HĐTPTANDTC không thể “bẻ” lại Luật do Quốc hội ban hành. Thực tế NQ02 đã ghi rõ nhiệm vụ quyền hạn của nó chỉ là hướng dẫn áp dụng pháp luật thì làm sao “bẻ” lại Luật?
Tại khoản 2 Điều 83 LBHVBQPPL khẳng định: “Trong trường hợp các văn bàn quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn”.
Như vậy nếu cho rằng có lướng vướng NQ02, thì áp dụng các Điều luật do Quốc hội ban hành vì có hiệu lực pháp lý cao hơn.
Vì vậy bản án cho rằng các hợp đồng chuyển nhượng QSD đất trong vụ án này là hợp pháp, được công nhận là sai các quy định của pháp luật.
( Mời xem thêm II.HỆ THỐNG NHÀ NƯỚC quy định trong Hiến pháp 2013, HP 1992, 2001, để biết rõ thêm Nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, Chủ tịch Nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, để xem TANDTC có “bẻ” Quốc hội được không ?)
18.Về văn bản và ý kiến không minh bạch của đại diện UBND Quận 9 và phường Tăng Nhơn Phú A có là căn cứ cho Tòa án phán quyết?
-Tôi không có văn bản 406/TNMT ngày 12/3/2013 của Phòng Tài nguyên và Môi trường Quận 9. Nhưng phần trích đưa vào bản án (trang 17), Phòng này chỉ nói không trở ngại do quy hoạch: “Phần đất thuộc thửa 562 và một phần các thửa 76, 87, 88, 89 tờ bản đồ số 56 ( tài liệu 2003), Bộ địa chính phường Tăng Nhơn Phú A, Quận 9 có nguồn gốc do ông Lê Văn Mân và bà Nguyễn Thị Nhân sử dụng trước năm 1975… Phần đất tranh chấp trên không thuộc quy hoạch cho dự án nào, có đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Văn bản này thể hiện các ngành chức năng của UBNDQ9 biết rất rõ là phần đất này là di sản, chưa chia, đang có tranh chấp, không thuộc quy hoạch cho dự án nào. Nhưng sau đó là một đoạn lập lờ: “có đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Đoạn này muốn nói gì? Đủ điều kiện là điều kiện gì? Là không vướng quy hoạch hay đã giải quyết xong tranh chấp? Cấp giấy chứng nhận cho ai? Một văn bản của cơ quan nhà nước mà lập lờ, ai muốn hiểu sao thì hiểu, vô thưởng vô phạt như vậy là điều không thể chấp nhận. Tòa án phải yêu cầu UBNDQ9 làm rõ ý nghĩa văn bản này trước khi phán quyết mới đúng.
Tương tự tại trang 21 Bản án có trích dẫn văn bản số 224/UBND ngày 03/10/2014 (sau ngày xét xử 29/09/2014) của UBND P.TNPA:“Việc xây dựng các nhà nêu trên không có xin phép, đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất - quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất”. Đúng là Quận lập lờ nên Phường cũng lập lờ theo. Việc xây dựng các căn nhà trên không có xin phép (chưa làm rõ vì sao không xin phép, do chiếm dụng, lấn chiếm, hay nhận sang nhượng bất hợp pháp? ) vậy làm sao đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất? Điều luật nào quy định việc này? Đúng là chính quyền hai cấp thực hiện “chiêu” lập lờ. Cần nhắc thêm UBNDP.TNPA có 2 văn bản (xem tại Điểm 9 trên đây): CV 55/UB ngày 23/8/2002 của UBND P.TNPA v/v trả đơn tranh chấp nhà đất của gia tộc; CV số 51/BC-UB ngày 10/10/2002 của UBND P.TNPA kính gửi UBND Quận 9, Phòng QLĐT Quận 9 v/v Báo cáo việc tranh chấp thừa kế của gia tộc bà Lê Thị Cầu, xác định diện tích đất tranh chấp là 1.504 m2 tọa lại tại 13/66 KP 3, P.TNPA. Còn rất nhiều đơn thư tranh chấp khác nữa. Từ 2007 đến  12/2013, UBNDP.TNPA cũng tham gia chứng kiến đo đạc do Tòa yêu cầu. Vậy mà UBNDP.TNPA nói đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận, là ý muốn nói gì? Căn cứ vào đâu?
Tiếp theo, tại trang 22 của bản án, Tòa ghi nhận (tức là không phản đối hoặc phủ nhận) việc UBNDQ9 ban hành quyết định 929/QĐ-UBND ngày 02/04/2009 về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X270994 ngày 24/9/2004 đã cấp cho ông Hoàng Đình Lâm do “được cấp khi đất đang có tranh chấp”.
Nhưng tại trang 26 Bản án lại “công nhận ông Hoàng Đình Lâm được quyền quản lý sử dụng  phần đất có diện tích 140,5 m2 ( vị trí thuộc ô thứ 11) thuộc một phần thửa 68 (thửa số mới 1128) tờ bản đồ 05 xã Tăng Nhơn Phú (theo TL 02CT-UB) vị trí đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X270994 ngày 24/9/2004 cấp cho ông Hoàng Đình Lâm (Giấy chứng nhận số X270994 đã bị UBND Quận 9 ra Quyết định thu hồi theo Quyết định số 929/QĐ-UBND ngày 02/4/2009)”. Như vậy là thế nào?
Ngoài ra tất cả các hợp đồng chuyển nhượng QSD đất di sản chưa chia, đang có tranh chấp, không có giấy tờ hợp pháp, Tòa không xét từng hợp đồng chuyển nhượng (vế căn cứ pháp lý, chủ thể, đối tượng) mà công nhận tất cả các hợp đồng  chuyển nhượng này và sau đó công nhận QSD đất cho tất cả những người nhận chuyển nhượng (trang 27) là không đúng quy định xét xử về công nhận hợp đồng.
 19.Bản án của Tòa không thể tự tiện lấy hành vi của người này gán cho người khác.Tại Điểm 8 trên đây tôi đã đưa ra chứng cứ chứng minh  ông Nguyễn Văn Bàng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Hoàng Đình Lâm chứ không phải bà Lê Thị Cầu chuyển nhượng. Nếu được chia di sản theo pháp luật thì ông Bàng chỉ được 1/14 kỷ phần của bà Cầu. Tòa không thể phán ngang xương từ ông Bàng qua bà Cầu như vậy được.
20.Tại trang 25 Bản án ghi: Chấp nhận một phần yêu cầu của các nguyên đơn là bà Đặng Thị Tuyết và bà Huỳnh Thị Kiều.
Tại sao Tòa chỉ chấp nhận một phần? Các phần không chấp nhận là phần nào? Lý do vì sao? Tại Điểm 10 trên đây, tôi nêu lại, nguyên đơn đã đưa ra 3 yêu cầu…
Từ ngày bắt đầu tranh chấp năm 1999 đến năm 2006 diện tích đất di sản là 1.504 m2, trừ một ít nằm trong lộ giới không đến 100m2. Sao Tòa chỉ công nhận 1.089 m2? Điều đó đã làm thiệt hại cho các thừa kế nên không thể chấp nhận.
21.Tại trang 26 bản án công nhận hàng loạt giấy chứng nhận QSD đất cho người nhận chuyển nhượng mà không xét quy trình cấp giấy chứng nhận của UBND Quận 9 có đúng theo trình tự thủ tục của pháp luật hay không, mà công nhận là sai quy định xét xử. Theo quy định của pháp luật, Tòa phải xem xét quy trình cấp giấy chứng nhận cho từng bộ hồ sơ của từng hộ, lập luận cho từng bộ hồ sơ của từng hộ. Hồ sơ nào hội đủ và đúng các quy định của pháp luật mới quyết định công nhận.  Tòa không xét theo quy trình cấp giấy chứng nhận mà công nhận là sai quy định của pháp luật.
22.Bản án đã vi phạm tố tụng, giải quyết vượt quá yêu cầu của đương sự. Cụ thể:
Bên chuyển nhượng (bà Cầu, bà Cúc) chuyển nhượng di sản chưa chia bằng giấy tay, đang có tranh chấp, chưa có giấy tờ hợp pháp  là sai quy định của pháp luật. Bà Cúc là người chuyển nhượng nhiều nhất. Nhưng qua các biên bản do UBND P.TNPA cung cấp (bà Cầu, bà Cúc đều có tranh chấp với bên nhận chuyển nhượng) và ngay trang 8 bản án này đã ghi nhận bà Cúc “yêu cầu Tòa án hủy tất cả các trường hợp mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên phần di sản này và chia thừa kế theo quy định pháp luật”. Vậy ai yêu cầu Tòa án công nhận các hợp đồng chuyển nhượng mà Tòa công nhận tất cả các hợp đồng này? Bản án không ghi nhận một trường hợp nào nộp đơn yêu cầu và tạm ứng án phí để tòa xét công nhận hợp đồng chuyển nhương. Như vậy rõ ràng là “Tòa vi phạm tố tụng, giải quyết vượt quá yêu cầu của đương sự”.
Tôi khẳng định bản án sơ thẩm số  284/2014/DS-ST ngày 06/10/2014 của TAND Q9 có quá nhiều sai sót, vi phạm pháp luật, đặc biệt là quy định về tố tụng như liệt kê ở trên, tôi nghĩ nên hủy bỏ bản án này.
Kính thưa Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm.
Vụ án quá kéo dài tính từ khi nộp đơn tranh chấp đến UBNDQ9 năm 1999 là 15 năm. Tính từ khi nộp đơn cho Tòa án năm 2002 đến nay là 13 năm. Trong thời gian này, theo liệt kê tại bản án có 01 người là đương sự và 06 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chết (nay ông Bàng chết nữa là 07), cộng với việc buông lỏng quản lý hành chính về đất đai của các cơ quan chức năng nên phát sinh rất phức tạp. Thấy được điều ấy, để giúp cho vụ án đỡ phức tạp nên trong Tờ khai bổ sung ngày 23/09/2014, nguyên đơn đã đề xuất phương án rất thiện chí, khả thi. Nhưng rất tiếc HĐXX sơ thẩm TANDQ9, không quan tâm đến đề xuất này mà còn phán quyết sai pháp luật và làm thiệt hại quyền lợi chính đáng của nguyên đơn.
Yêu cầu cốt lõi nhất: Nguyên đơn chỉ đề nghị hưởng 110 m2 QSD đất di sản (chia trong phần đất trống, đất chiếm dụng, xây dựng bán kiên cố, sau khi trừ lối đi…) thấp hơn số được chia thừa kế theo pháp luật. Không hiểu vì sao, HĐXX sơ thẩm lại cố sức bảo vệ quyền lợi của tất cả Bên nhận chuyển nhượng bất hợp pháp (trong đó có công chức TANDQ9), để làm thiệt hại đến quyền lợi chính đáng và hợp pháp của nguyên đơn. Đó là điều gây bức xúc cho nguyên đơn và nhiều người khác.
Về Giấy chứng nhận QSD đất đã cấp sai quy định của pháp luật, UBNDQ9 đã thu hối, nay HĐXX sơ thẩm TANDQ9 lại công nhận mà không chỉ ra Quyết định của UBNDQ9 về việc thu hồi đó sai theo quy định nào. Bản án còn công nhận tất cả giấy tờ khác về QSD đất mà UBNDQ9 cấp sai pháp luật tại khu đất này. Đó là điều vô lý, không thể chấp nhận được.
 Từ những điều nêu trên, tiếp theo Đơn kháng cáo nguyên đơn đã nộp tòa án ngày 20/10/2014, Đơn kháng cáo bổ sung  ngày 22/11/2014, tôi yêu cầu Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm (TANDTPHCM) bốn yêu cầu sau:
1).Tuyên hủy bản án số 284/2014/DS-ST ngày 06/10/2014 của Tòa án nhân dân Quận 9, yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm xét xử sơ thẩm lại. Vì lý do nào đó mà Tòa cấp phúc thẩm tuyên không hủy bản án này, tôi yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm (TANDTPHCM), tuyên:
2).Tuyên nguyên đơn Huỳnh Thị Kiều được hưởng 110 m2 QSD đất di sản của ông bà nội là ông Mân, bà Nhân chết để lại.
3).Tuyên vô hiệu tất cả các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trái quy định của pháp luật. (Di sản chưa chia, đang có tranh chấp, không có giấy tờ hợp pháp, chuyển nhượng bằng giấy tay, không qua công chứng và cơ quan nhà nước có thẩm quyền).
4).Tuyên yêu cầu UBNDQ9 thu hồi và hủy bỏ tất cả các quyết định, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy phép xây dựng và các giấy tờ khác do UBND quận 9 đã cấp sai quy định của pháp luật trên phần đất di sản 1.504m2 này.
Trong  bản tự khai bổ sung ngày 23/9/2014 nguyên đơn đã gửi kèm 29 bản chụp chứng cứ, ngày 22/112014 tại đơn kháng cáo bổ sung, nguyên đơn gửi kèm thêm  bản chụp QĐ 37/QĐ-UBND ngày 31/3/2009 của UBNDQ9 v/v giải quyết khiếu nại cho bà Đặng Thị Tuyết.
                                                          Đại diện nguyên đơn HUỲNH THỊ KIỀU
                                                                     NGUYỄN THU GIANG